Giữa dòng chảy không ngừng của quá trình đô thị hóa, phường Mão Điền vẫn đang gìn giữ và phát huy những giá trị kinh tế nông nghiệp đặc trưng bằng những cách làm mới, hiệu quả và bền vững hơn. Từ thực tiễn sản xuất trên sông Đuống, mô hình nuôi cá lồng của gia đình anh Đỗ Đăng Năng, khu phố Thụy Mão, đang cho thấy tính ưu việt nhờ chiến lược “tinh gọn quy mô”, ứng dụng công nghệ và mạnh dạn đưa các giống cá đặc sản vào sản xuất. Ghi nhận của phóng viên.
Nghề nuôi cá lồng ở phường Mão Điền mang lại hiệu quả kinh tế ổn định
Tốt nghiệp đại học với tầm bằng kỹ sư thủy sản, thay vì chọn làm việc tại các doanh nghiệp lớn hay chốn thị thành, anh Đỗ Đăng Năng quyết định mang tri thức về làm giàu trên chính quê hương, tiếp nối nghề truyền thống của gia đình là nuôi thả cá thương phẩm và nhân giống cung cấp cho các ao nuôi trên địa bàn. Năm 2012, khi Chi cục thủy sản tỉnh Bắc Ninh triển khai mô hình thí điểm nuôi cá lồng trên sông, anh Năng đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đăng ký và mạnh dạn đầu tư xây dựng 10 lồng nuôi đầu tiên ngoài sông Đuống. Anh Năng chia sẻ, thời gian đầu do chưa có nhiều kinh nghiệm cọ xát thực tế nên gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Anh phải vừa làm, vừa tự mài mò học hỏi thêm kỹ thuật để áp dụng vào thực tiễn. Trong 3 năm đầu tiên, gần như toàn bộ số tiền kiếm được anh đều đổ dồn lại để tái đầu tư và mở rộng quy mô. Sự bền bỉ ấy đã giúp mô hình từng bước đi vào ổn định, đặc biệt phát triển mạnh từ khoảng năm 2015 trở lại đây.
Mô hình nuôi cá lồng tại Mão Điền từng bước nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản
Điểm đáng chú ý ở mô hình của anh Năng không chỉ nằm ở quy mô, mà ở tư duy tổ chức sản xuất bài bản. Để hệ thống lồng bè hoạt động hiệu quả, anh chú trọng tuyệt đối vào khâu thiết kế và vị trí neo đậu. Các lồng nuôi được thiết kế theo kích thước tiêu chuẩn: dài 9m, rộng 6m và sâu 3m. Vùng quanh các lồng là hệ thống đường nổi chắc chắn để đi lại, phục vụ thuận tiện cho việc cho cá ăn và thu hoạch. Anh Năng cho biết, vị trí đặt lồng liên quan mật thiết đến sự sinh trưởng của đàn cá. Lồng cá bắt buộc phải được đặt ở nơi thông thoáng, có dòng nước luôn lưu thông với tốc độ dòng chảy đạt chuẩn từ 0,2 đến 0,3 m/s. Nguồn nước phải sạch, không bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp hay nước sinh hoạt. Khu vực nuôi cũng cần đảm bảo độ sâu từ 3m trở lên và đáy lồng phải cách đáy sông ít nhất 0,5m để đảm bảo vệ sinh. Bên cạnh đó, việc bố trí lồng bè phải thuận lợi về mặt giao thông để đảm bảo chuỗi cung ứng: từ việc nhập con giống, thức ăn đến khâu chăm sóc, quản lý và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm.
Phương tiện hỗ trợ vận chuyển giúp giảm nhân công, nâng cao hiệu quả sản xuất
Nếu như trước đây, nhiều hộ nuôi thường coi việc tăng số lượng lồng là thước đo của thành công, thì hiện nay, gia đình anh Năng lại chọn cho hướng đi khác: tinh gọn quy mô để tối ưu hóa lợi nhuận. Từ thực tế sản xuất, gia đình anh đang duy trì ổn định 25 lồng nuôi. Sự “tinh gọn” này mang lại lợi thế đáng kể về mặt nhân sự nhờ áp dụng triệt để các công cụ máy móc hỗ trợ. Anh Năng tự hào chia sẻ: “"Với số lượng 25 lồng, nhờ các công cụ hỗ trợ tự động hóa trong việc cho ăn và vệ sinh, chúng tôi hiện chỉ cần đúng một lao động thường xuyên là đã có thể quán xuyến và hoàn thành tốt mọi khối lượng công việc hàng ngày". Việc giải phóng sức lao động con người không chỉ tối ưu hóa chi phí vận hành mà còn mang lại mức thu nhập ổn định ở mức 10 triệu đồng/tháng cho người lao động trực tiếp bám lồng. Chỉ khi vào cao điểm thu hoạch rộ, trang trại mới linh hoạt sử dụng thêm lao động thời vụ. Sự tối ưu hóa này giúp anh Năng kiểm soát tốt hơn môi trường dịch bệnh và dòng tiền đầu tư. Thực tế chăn nuôi cho thấy chi phí thức ăn là gánh nặng lớn nhất, chiếm tới hơn 70% tổng chi phí sản xuất, phần còn lại dành cho con giống và thuốc men. Chi phí này đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối vụ khi cá bước vào giai đoạn vỗ béo, chuẩn bị xuất bán. Bên cạnh đó, quy trình phòng dịch luôn được đặt trong trạng thái cảnh giác cao độ. Đàn cá được định kỳ bổ sung Vitamin, men tiêu hóa, thuốc giải độc gan để tăng sức đề kháng tự nhiên, chống lại các mầm bệnh thường gặp trên sông như ký sinh trùng, nấm hay xuất huyết. Nhờ sự cẩn trọng trong từng khâu, anh Năng tự tin đánh giá, hiệu quả kinh tế từ mô hình lồng bè của gia đình hiện vẫn đang trên đà tăng trưởng ổn định qua từng năm.
Hiện nay, anh Năng duy trì thả nuôi đa dạng các giống cá chất lượng, có giá trị kinh tế cao như: cá trắm, cá chép giòn, diêu hồng, cá lăng, trong đó chủ lực hiện nay là cá chép giòn chiếm đến trên 40% sản lượng. Dù vụ thu hoạch năm 2025 vẫn đang tiếp diễn, nhưng đến thời điểm hiện tại, gia đình anh đã thu hoạch được khoảng 40 tấn cá thương phẩm. Sản phẩm sau thu hoạch được thương lái đến tận nơi để thu mua, tạo đầu ra tương đối thuận lợi. Sau khi trừ chi phí, thu nhập từ mô hình cá lồng mang lại cho gia đình từ khoảng 600 - 700 triệu/năm – anh Năng nói.
Không chỉ giữ vững thế mạnh sẵn có, khoảng 1-2 năm gần đây, gia đình anh còn thử nghiệm nuôi cá tầm trên sông Đuống và đánh giá đối tượng này đang có chiều hướng phát triển tích cực. Trong thời gian tới, anh dự định có thể áp dụng thêm cá tầm vào vụ đông xuân để đa dạng hóa sản phẩm và tận dụng tốt hơn điều kiện sản xuất. Từ thực tế cho thấy, nuôi cá lồng trên sông là nghề đòi hỏi kỹ thuật cao, nhất là ở khâu quản lý thời gian nuôi và tổ chức sản xuất. Theo anh Năng, có những loại cá chỉ sau khoảng một năm đã có thể thu hoạch, như cá trắm cỏ hay cá diêu hồng; nhưng cũng có đối tượng phải kéo dài tới gần 2 năm, như cá trắm đen, cá lăng, cá chép giòn. Vì vậy, gia đình áp dụng hình thức nuôi gối vụ để có cá thu hoạch thường xuyên, giảm áp lực đầu ra và bớt gánh nặng chi phí dồn vào một thời điểm. Riêng với cá chép giòn, sản lượng bình quân đạt khoảng 6-7 tấn/lồng. Hiện nay gia đình đang vào vụ thả giống mới, chủ yếu là cá chép giống, cá điêu hồng giống và cá trắm giống, chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Từ 10 lồng nuôi thí điểm ban đầu, mô hình của gia đình anh Đỗ Đăng Năng đã trở thành một hình mẫu tiêu biểu về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng chất lượng, tinh gọn. Trong bối cảnh phường Mão Điền đang nỗ lực đa dạng hóa các ngành nghề kinh tế, nâng cao đời sống dân sinh, những tấm gương dám nghĩ, dám làm, làm chủ khoa học kỹ thuật như anh Đăng Năng chính là nguồn cảm hứng lớn, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh./.